Hotline: 0969771256

Những ai cần xét nghiệm nước tiểu và khi nào thì cần?

Ngày 29 Tháng 07 Năm 2026

Cấu tạo của hệ tiết niệu và vai trò

Hệ tiết niệu là tên gọi quen thuộc của một hệ thống bên trong cơ thể con người. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết cấu tạo của hệ tiết niệu. Dưới đây là các bộ phận của hệ thống này và chức năng của chúng:

Thận

Vị trí của thận là ở phía sau khoang phúc mạc, cách đều 2 bên cột sống. Thận phải thường nằm thấp hơn thận trái. Thận là tạng đặc và có trọng lượng tương đối nhỏ, trung bình từ 130 - 135g. Mỗi quả thận có kích thước khoảng 12 x 6 x 3cm. Nhu mô thận dày từ 1,5 - 1,8cm và được bao phủ bởi một lớp vỏ thận bên ngoài.

Không những vậy, nhu mô thận cũng được chia thành 2 phần:

  • Vùng tủy: Gồm các đài thận nhỏ, có đỉnh hướng về đài nhỏ. Mỗi đài lại chứa hệ thống ống góp dẫn thẳng vào đài thận.
  • Vùng vỏ thận: Vỏ thận là nơi tập trung chủ yếu của các nephron, là các đơn vị chức năng thận. Mỗi quả thận có đến 1 - 1,5 triệu nephron phân bố ở vùng vỏ.
  • Rốn thận: Là nơi cuống thận đi vào thận. Để điều trị các bệnh lý liên quan đến thận, bác sĩ sẽ tiến hành phẫu thuật ở vị trí rốn thận để xâm nhập vào bên trong quả thận.

Niệu quản

Niệu quản được hiểu đơn giản là ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài miệng sáo. Ở nam giới, niệu đạo cũng chính là đường dẫn của tinh trùng. Do đó, kích thước của niệu đạo có sự khác biệt rõ rệt giữa nam và nữ giới:

  • Ở nam giới: Niệu đạo của người trưởng thành có chiều dài khoảng 14 - 16cm, được chia thành 2 phần là niệu đạo sau và niệu đạo trước.
  • Ở nữ giới: Niệu đạo ở nữ giới có cấu trúc cố định, dài khoảng 3cm và được gắn liền với thành trước của âm đạo.

Bàng quang

Bàng quang là một túi rỗng chứa nước tiểu, có vị trí ở ngay sau khớp mu. Theo tính toán, bàng quang có khả năng chứa từ 300 - 500ml. Khi lượng nước tiểu đầy lên, bàng quang co giãn khiến cho nó chạm sát tới gần rốn. Cấu tạo của bàng quang bao gồm 4 lớp cơ bản là:

  • Lớp niêm mạc bao phủ mặt trong bàng quang.
  • Lớp cơ bao gồm lớp cơ dọc ở ngoài, lớp cơ chéo ở giữa và lớp cơ vòng ở trong, lớp cơ chéo ở giữa.
  • Lớp hạ niêm mạc có cấu tạo rất lỏng lẻo, giúp cho lớp cơ và lớp hạ niêm có thể dễ dàng trượt lên nhau.
  • Lớp thanh mạc.

Chức năng của hệ tiết niệu

Mỗi bộ phận của hệ tiết niệu có những chức năng riêng biệt. Đó là:

  • Thận: Hai quả thận là cơ quan chính trong hệ tiết niệu, có nhiệm vụ lọc và bài tiết các chất thải ra ngoài theo đường nước tiểu. Ngoài ra, nó còn giúp điều hoà thể tích và thành phần máu. Từ đó, hỗ trợ ổn định huyết áp, độ pH và đường huyết. Đây cũng là cơ quan sản xuất ra hormon calcitriol và erythropoietin.
  • Niệu quản: Chức năng của niệu quản là vận chuyển nước tiểu từ thận xuống bàng quang.
  • Bàng quang: Là nơi lưu trữ nước tiểu. Khi bàng quang đầy dần lên, nó sẽ gửi tín hiệu cho não bộ và bắt đầu đẩy nước tiểu xuống niệu đạo để thải ra ngoài.
  • Niệu đạo: Là đường ống dẫn truyền nước tiểu ra khỏi cơ thể và là đường dẫn tinh ở nam giới.

Những ai cần xét nghiệm nước tiểu? 

Xét nghiệm nước tiểu không gây xâm lấn, việc lấy mẫu xét nghiệm cũng rất đơn giản và an toàn với người bệnh. Kết quả xét nghiệm nước tiểu mang ý nghĩa quan trọng, cho biết về những chất tồn tại trong nước tiểu, rất hữu ích trong chẩn đoán và điều trị bệnh. Những trường hợp được chỉ định xét nghiệm nước tiểu bao gồm:

- Trường hợp khám sức khỏe tổng quát, kiểm tra sức khỏe định kỳ.

- Các trường hợp đang điều trị bệnh, chẳng hạn như bệnh tiểu đường, bệnh thận, tình trạng tăng huyết áp,... cũng cần xét nghiệm để kiểm tra chất lượng nước tiểu.

- Người có những biểu hiện bất thường, có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh thận, bệnh đường tiết niệu hay nhiễm trùng. Bao gồm một số triệu chứng như thường xuyên đi tiểu, tiểu buốt, khó tiểu, trong nước tiểu có lẫn máu, đau bụng, đau lưng,...

- Các bệnh nhân chuẩn bị phẫu thuật cũng cần xét nghiệm nước tiểu để bác sĩ có những đánh giá cụ thể về tình trạng sức khỏe của người bệnh.

- Đối với mẹ bầu, xét nghiệm nước tiểu cũng là loại xét nghiệm được thực hiện định kỳ để đánh giá về nguy cơ viêm đường tiết niệu hay nguy cơ tiền sản giật,...

- Ngoài ra, những trường hợp cần được sàng lọc những chất gây nghiện (cần sa, thuốc lắc, heroin,...) cũng có thể được chỉ định thực hiện phân tích mẫu nước tiểu.

Khi nào cần xét nghiêm nước tiểu 

Việc xét nghiệm phân tích nước tiểu rất phổ biến bởi đây là cách đơn giản và không xâm lấn để kiểm tra nhiều khía cạnh khác nhau của sức khỏe.Một số lý do để thực hiện xét nghiệm nước tiểu là:

  • Khi thăm khám sức khỏe định kỳ – xét nghiệm nước tiểu là một trong các hạng mục cần thực hiện
  • Gặp phải dấu hiệu hoặc có triệu chứng của một số vấn đề sức khỏe về tiểu đường, bệnh thận,… như có các triệu chứng bị đau bụng, đau lưng, đi tiểu nhiều hoặc bị đau khi đi tiểu, đi tiểu ra máu,…
  • Để theo dõi việc điều trị như điều trị tiểu đường hoặc các bệnh liên quan tới thận nhằm xem xét khả năng đáp ứng điều trị.
  • Thử thai: Đo nồng độ của hormone hCG, thường có kết quả chính xác nhất khi thử nước tiểu vào buổi sáng.
  • Sàng lọc thuốc: Ví dụ như tìm kiếm dấu hiệu của cần sa (có thể phát hiện sau vài tuần sử dụng) hoặc cocaine/ thuốc lắc/ heroin (có khả năng xuất hiện trong nhiều nhất 5 ngày).
  • Khi muốn chẩn đoán nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu: Tìm kiếm bằng chứng nhiễm trùng như nitrit hoặc leukocyte esterase (chỉ số của một sản phẩm tế bào bạch cầu).
  • Là bước kiểm tra trước khi phẫu thuật: Là một trong những đánh giá những bệnh nhân phẫu thuật có nguy cơ cao chảy máu nhiều hoặc các biến chứng khác.

Ý nghĩa các chỉ số xét nghiệm nước tiểu 

 

– Chỉ số nitrate (NIT): Chỉ số cho phép trong nước tiểu là 0.05 – 0.1 mg/dL. Thường dùng để chỉ tình trạng nhiễm trùng đường tiểu. Vi khuẩn gây nhiễm trùng đường niệu tạo ra 1 loại enzyme có thể chuyển nitrate niệu ra thành nitrite. Do đó nếu như tìm thấy nitrite trong nước tiểu có nghĩa là có nhiễm trùng đường niệu. Nếu dương tính là có nhiễm trùng, nhất là loại E. Coli.

– Chỉ số urobilinogen (UBG): Chỉ số cho phép trong nước tiểu là: 0.2 – 1.0 mg/dL hoặc 3.5 – 17 mmol/L. Đây là xét nghiệm giúp chẩn đoán bệnh lý gan hay túi mật. UBG là sản phẩm được tạo ra từ sự thoái hóa của bilirubin. Urobilinogen có trong nước tiểu có thể là dấu hiệu của bệnh về gan (xơ gan, viêm gan), hoặc dòng chảy của mật bị tắc nghẽn.

– Chỉ số leukocytes (LEU ): Là tế bào bạch cầu thường có trong nước tiểu từ 10 – 25 LEU/UL. Khi có viêm đường niệu do nhiễm khuẩn hoặc nhiễm nấm thì chỉ số LEU thường tăng, đi tiểu nhiều lần, có thể có triệu chứng tiểu buốt, tiểu rắt.

– Chỉ số billirubin (BIL) Chỉ số cho phép trong nước tiểu: 0.4 – 0.8 mg/dL hoặc 6.8 – 13.6 mmol/L. Billirubin bình thường không có trong nước tiểu mà thải qua đường phân. Nếu như billirubin xuất hiện trong nước tiểu nghĩa là gan đang bị tổn thương hoặc dòng chảy của mật từ túi mật bị nghẽn.

– Chỉ số protein (Pro) Protein niệu là xét nghiệm đánh giá chức năng thận. Bởi khi chức năng lọc của thận bình thường sẽ không có protein trong nước tiểu, trả về kết quả âm tính (< 0.1G/L). Protein niệu dương tính trong một số nguyên nhân thường gặp là: Đái tháo đường, viêm tiểu cầu thận, đau tủy xương, tiền sản giật, viêm thận bể thận, bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

– Chỉ số blood (BLD): Chỉ số cho phép: 0.015 – 0.062 mg/dL hoặc 5 – 10 Ery/ UL. Hồng cầu niệu là dấu hiệu cho thấy có nhiễm trùng đường tiểu, sỏi thận, hay xuất huyết từ bàng quang hoặc bướu thận. Nếu chỉ số BLD tăng cao vượt mức cho phép có thể là dấu hiệu cảnh báo tổn thương thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo có thể làm máu xuất hiện trong nước tiểu.

– Chỉ số ketone (KET): Chỉ số cho phép: 2.5 – 5 mg/dL hoặc 0.25 – 0.5 mmol/L. Dấu hiệu hay gặp ở bệnh nhân tiểu đường không kiểm soát, chế độ ăn ít chất carbohydrate, nghiện rượu, nhịn ăn trong thời gian dài. Đây là chất được thải ra ở đường tiểu, cho biết thai phụ và thai nhi đang thiếu dinh dưỡng hoặc mắc chứng tiểu đường. Đồng thời cũng là dấu hiệu nhiễm trùng đường tiểu.

– Chỉ số glucose (Glu): Bình thường không có đường trong nước tiểu hoặc có rất ít glucose. Khi đường huyết trong máu tăng cao, chẳng hạn như đái tháo đường không kiểm soát, thì đường sẽ thoát ra nước tiểu. Glucose cũng có thể được tìm thấy bên trong nước tiểu khi thận bị tổn thương hoặc có bệnh.

– Chỉ số pH: Chỉ số pH dùng để kiểm tra xem nước tiểu có tính chất acid hay bazơ, pH=4 có nghĩa là nước tiểu có tính acid mạnh, pH=7 là trung tính (không phải acid, cũng không phải bazơ) và pH=9 có nghĩa là nước tiểu có tính bazơ mạnh. Tình trạng tăng pH niệu thường gặp trong một số nguyên nhân: Có vi khuẩn trong nước tiểu, suy thận mạn, hẹp môn vị, nhiễm trùng tiết niệu… Tình trạng giảm pH niệu thường gặp trong một số nguyên nhân: Mất nước, tiêu chảy, sốt, đái tháo đường, lao thận, nhiễm trùng tiết niệu.

 

Tin tức liên quan
Đặt lịch khám